Kết nối qua MCP →

Nhập phép tính

Công thức

Quảng cáo

Kết quả

Nghiệm dương thứ s của J_v(x)
2,4048255577
j_v,s (Bessel loại một)
Nghiệm dương thứ s của Y_v(x) 0,8935769664
Ký hiệu y_v,s (Bessel loại hai / Neumann)

Công cụ này làm gì

Công cụ này giúp bạn tìm nghiệm dương thứ s của hàm Bessel loại một \(J_v(x)\) và loại hai \(Y_v(x)\) (còn gọi là hàm Neumann hay hàm Weber) với bậc v là số thực. Các nghiệm này, ký hiệu là \(j_{v,s}\) và \(y_{v,s}\), xuất hiện khắp nơi trong vật lý và kỹ thuật: dao động của màng tròn (mặt trống), dẫn nhiệt trong hình trụ, ống dẫn sóng điện từ và chuỗi Fourier-Bessel. Đây là một công cụ toán học thuần túy về hàm đặc biệt, dùng được phổ quát và không phụ thuộc vào khu vực hay đơn vị nào.

Hai đường cong dao động tắt dần cắt trục hoành tại các điểm được đánh dấu
Các điểm không là các giá trị x mà tại đó Jv(x) và Yv(x) cắt trục hoành.

Cách sử dụng

Nhập Bậc v (một số thực, thường từ 0 đến 200) và Chỉ số nghiệm s (số nguyên dương 1, 2, 3, …). Máy tính sẽ trả về \(j_{v,s}\) — nghiệm dương thứ s của \(J_v(x)\), và \(y_{v,s}\) — nghiệm dương thứ s của \(Y_v(x)\). Ví dụ, với \(v = 0\), \(s = 1\) ta được mode dao động cơ bản của mặt trống.

Công thức và phương pháp tính

Cả hai hàm đều là nghiệm của phương trình Bessel \(x^2 y'' + x y' + (x^2 - v^2)y = 0\). Hàm \(J_v\) được tính từ chuỗi lũy thừa hội tụ của nó; còn \(Y_v\) dùng công thức $$Y_v = \frac{J_v\cos(v\pi) - J_{-v}}{\sin(v\pi)}$$ trong đó trường hợp bậc nguyên được xử lý như một giới hạn số. Để xác định nghiệm thứ s, ta khởi tạo bằng ước lượng tiệm cận McMahon, khoanh vùng nghiệm, rồi tinh chỉnh bằng phương pháp chia đôi cho đến khi hội tụ. Vì \(Y_v(x) \to -\infty\) khi \(x = 0\), quá trình tìm kiếm bắt đầu từ một giá trị x dương nhỏ để tránh điểm kỳ dị logarit.

Một đường cong Bessel cắt trục với các điểm không liên tiếp được gán nhãn theo chỉ số
Các điểm không dương liên tiếp x1, x2, x3 được đánh chỉ số theo s dọc theo đường cong.

Ví dụ minh họa

Với \(v = 0\), \(s = 1\): nghiệm dương đầu tiên của \(J_0(x)\) là \(2{,}4048255577\), còn nghiệm dương đầu tiên của \(Y_0(x)\) là \(0{,}8935769663\). Với \(v = 1\), \(s = 1\): \(j_{1,1} = 3{,}8317059702\) và \(y_{1,1} = 2{,}1971413260\).

Các số không có ý nghĩa gì trong ứng dụng

Các số không của hàm Bessel không phải là một sự tò mò trừu tượng — chúng là các giá trị riêng rời rạc xuất hiện bất cứ khi nào một bài toán sóng, nhiệt hoặc thế năng được đặt trên một miền hình tròn hoặc hình trụ. Điều kiện biên buộc phần hướng tâm của lời giải phải triệt tiêu (hoặc đạo hàm của nó phải triệt tiêu) tại biên, và điều kiện đó chỉ được thỏa mãn tại các số không \(j_{v,s}\).

Màng hình tròn rung động (mặt trống)

Đối với một cái trống hình tròn lý tưởng có bán kính \(a\) với cạnh được kẹp, sự dịch chuyển tách ra thành các chế độ được đặt nhãn bởi \((v,s)\), trong đó \(v\) đếm các đường kính nút góc và \(s\) đếm các vòng tròn nút hướng tâm. Các tần số riêng được phép là \(f_{v,s}=\frac{c}{2\pi a}\,j_{v,s}\), trong đó \(c\) là vận tốc sóng. Tần số cơ bản sử dụng \(j_{0,1}=2.4048256\); các \(s\) và \(v\) cao hơn đều làm tăng cao độ, và vì các \(j_{v,s}\) không phải là bội số nguyên của nhau nên các âm bội của trống không hài hòa.

Dẫn nhiệt hình trụ

Khi giải phương trình nhiệt trong một hình trụ dài có bề mặt nhiệt độ không đổi, các hàm riêng hướng tâm là \(J_0(\lambda_s r/a)\) với \(\lambda_s=j_{0,s}\). Mỗi chế độ phân rã theo thời gian là \(\exp\!\left(-\alpha (j_{0,s}/a)^2 t\right)\), vì vậy số không nhỏ nhất \(j_{0,1}\) điều khiển hồ sơ nhiệt độ phân rã chậm nhất, tồn tại lâu nhất. \(s\) lớn hơn tạo ra các giá trị riêng lớn hơn và do đó phân rã nhanh hơn.

Tần số cắt sóng dẫn

Trong một sóng dẫn hình trụ kim loại rỗng có bán kính \(a\), các chế độ từ trường ngang (TM) cắt ở các tần số được đặt bởi \(j_{v,s}\) và các chế độ điện trường ngang (TE) bởi các số không của đạo hàm \(J_v'\). Đối với các chế độ TM, cắt là \(f_{c}=\frac{c\,j_{v,s}}{2\pi a}\); chỉ ở tần số này trở lên chế độ mới lan truyền. Chế độ TM thấp nhất (TM\(_{01}\)) lại sử dụng \(j_{0,1}\).

Chuỗi Fourier–Bessel

Bất kỳ hàm hợp lý nào trên một đĩa đều có thể được khai triển là \(f(r)=\sum_{s=1}^{\infty} c_s\,J_v\!\left(j_{v,s}\,r/a\right)\). Các số không được chia tỷ lệ \(j_{v,s}/a\) hoạt động chính xác giống như các số sóng \(n\pi/L\) của một chuỗi sin Fourier thông thường, và tính trực giao của \(J_v(j_{v,s}r/a)\) trên đĩa (có trọng số \(r\)) cho phép tính toán các hệ số bằng tích phân, \(c_s=\frac{2}{a^2 J_{v+1}^2(j_{v,s})}\int_0^a f(r)\,J_v\!\left(j_{v,s}r/a\right) r\,dr\).

Cách các số không dịch chuyển

Đối với một bậc cố định, tăng chỉ số \(s\) tăng \(j_{v,s}\) theo các bước tiếp cận \(\pi\) (dao động trở nên gần như tuần hoàn xa từ gốc). Đối với một chỉ mục cố định, tăng bậc \(v\) đẩy số không đầu tiên ra ngoài một cách thô ước như \(j_{v,1}\approx v + 1.8557\,v^{1/3}+\cdots\) đối với \(v\) lớn, phản ánh cách lực hướng tâm \(v^2/x^2\) trong phương trình Bessel trì hoãn sự khởi đầu của dao động. Kết luận thực tế: độ phức tạp góc cao hơn (\(v\)) và nhiều nút hướng tâm hơn (\(s\)) đều tương ứng với các giá trị riêng lớn hơn và do đó tần số cao hơn hoặc phân rã nhanh hơn.

Ví dụ cụ thể về trống với \(c=100\ \text{m/s}\) và \(a=0.30\ \text{m}\), tần số cơ bản là \(f_{0,1}=\frac{100}{2\pi(0.30)}\,(2.4048256)\approx 127.6\ \text{Hz}\). Âm bội đầu tiên sử dụng \(j_{1,1}=3.8317060\), cho \(\approx 203\ \text{Hz}\), vì vậy tỷ lệ âm bội với cơ bản là \(j_{1,1}/j_{0,1}\approx 1.593\) — có thể nghe thấy không phải một quãng tám hoặc một quãng năm, đó là lý do tại sao trống nghe có vẻ không có cao độ so với dây.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao nghiệm đầu tiên của \(Y_v\) lại nhỏ hơn 1? \(Y_0\) tiến tới \(-\infty\) tại gốc tọa độ và cắt trục hoành gần \(x \approx 0{,}894\) trước khi đạt cực đại đầu tiên, nên nghiệm đầu tiên của nó nhỏ hơn nhiều so với nghiệm của \(J_0\).

v có thể là số không nguyên không? Có. Công thức định nghĩa \(Y_v\) đúng trực tiếp với mọi giá trị v không nguyên, còn các bậc nguyên được xử lý như một giới hạn trơn.

Kết quả chính xác đến mức nào? Phép tính sử dụng số học độ chính xác kép, cho khoảng 10 chữ số có nghĩa với các giá trị v và s vừa phải.

Cập nhật lần cuối: