Kết nối qua MCP →

Nhập phép tính

Công thức

Quảng cáo

Kết quả

Độ dày vật lý của lớp phủ
99,64
nanomet (nm)
Độ dày vật lý 0,0996 µm
Độ dày quang học (n·t) 137,5 nm

Máy tính lớp phủ quang học màng mỏng là gì?

Lớp phủ chống phản xạ (AR) giúp giảm những phản xạ không mong muốn trên thấu kính, màn hình và cửa sổ quang học. Thiết kế phổ biến nhất là lớp phủ một phần tư bước sóng: một lớp màng mỏng đơn lẻ có độ dày quang học bằng đúng một phần tư bước sóng thiết kế. Ở độ dày này, ánh sáng phản xạ từ mặt trên của màng và ánh sáng phản xạ tại giao diện với đế (substrate) lệch pha nhau nửa bước sóng nên triệt tiêu lẫn nhau, qua đó khử phản xạ. Máy tính này cho bạn biết độ dày vật lý cần thiết của lớp màng dựa trên bước sóng thiết kế và chiết suất của vật liệu phủ.

Ánh sáng chiếu vào một lớp phủ mỏng trên nền kính, cho thấy hai tia phản xạ triệt tiêu lẫn nhau
Lớp phủ chống phản xạ một phần tư bước sóng tạo ra hai sóng phản xạ giao thoa triệt tiêu, làm giảm phản xạ.

Cách sử dụng

Nhập bước sóng thiết kế λ tính bằng nanomet (ví dụ 550 nm cho vùng giữa màu xanh lục của phổ ánh sáng nhìn thấy), chiết suất n của vật liệu phủ (ví dụ 1,38 đối với magie florua, MgF₂) và bậc m. Dùng m = 1 cho lớp một phần tư bước sóng đơn mỏng nhất; các bậc lẻ cao hơn (3, 5, …) cho lớp dày hơn, vẫn hoạt động ở cùng bước sóng nhưng trên dải hẹp hơn. Kết quả hiển thị cả độ dày vật lý lẫn độ dày quang học.

Giải thích công thức

Độ dày vật lý là $$t = \frac{m\lambda}{4n}$$ Hệ số \(1/n\) chuyển quãng đường quang học \(\left(m\lambda/4\right)\) thành độ dày hình học thực bên trong lớp màng có chiết suất cao hơn, bởi vì ánh sáng đi chậm hơn và có bước sóng hiệu dụng ngắn hơn \(\lambda/n\) khi ở trong vật liệu. Do đó độ dày quang học \(n\cdot t\) bằng \(m\lambda/4\), tức là một bội số lẻ của một phần tư bước sóng — đúng điều kiện để đạt cực tiểu phản xạ.

Quảng cáo
Sơ đồ độ dày lớp phủ bằng một phần tư bước sóng bên trong màng
Độ dày lớp phủ t bằng một phần tư bước sóng đo bên trong màng.

Ví dụ minh họa

Với \(\lambda = 550\ \text{nm}\), \(n = 1{,}38\) (MgF₂) và \(m = 1\): $$t = \frac{1 \times 550}{4 \times 1{,}38} = \frac{550}{5{,}52} \approx 99{,}64\ \text{nm}$$ Vậy một lớp MgF₂ đơn dày khoảng 100 nm sẽ giảm thiểu phản xạ ở ánh sáng xanh lục. Độ dày quang học của nó là \(1{,}38 \times 99{,}64 \approx 137{,}5\ \text{nm} = 550/4\).

Câu hỏi thường gặp

Vì sao bậc m phải là số lẻ? Chỉ những bội số lẻ của một phần tư bước sóng mới tạo ra độ lệch pha nửa bước sóng sau hành trình khứ hồi cần thiết cho giao thoa triệt tiêu; các bội số chẵn lại hành xử như một lớp "vô tác dụng" (absentee layer).

Chiết suất nào là lý tưởng cho lớp phủ chống phản xạ đơn lớp? Phản xạ biến mất hoàn toàn khi \(n_{\text{màng}} = \sqrt{n_{\text{đế}}}\). Với thủy tinh (\(n \approx 1{,}5\)), giá trị lý tưởng là khoảng 1,22; MgF₂ với chiết suất 1,38 là lựa chọn chiết suất thấp khả thi trên thực tế.

Có dùng được công thức này cho chồng gương phản xạ cao không? Quy tắc độ dày một phần tư bước sóng vẫn áp dụng cho từng lớp trong một chồng điện môi đa lớp, tuy nhiên để đánh giá hiệu năng tổng thể của cả chồng thì cần phân tích bằng phương pháp ma trận truyền (transfer-matrix).

Cập nhật lần cuối: